GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương[1] gắn liền với Lễ hội Đền Hùng hoặc tôn xưng là ngày Quốc giỗ là một ngày lễ của Việt Nam. Đây là ngày hội truyền thống của Người Việt tưởng nhớ công lao dựng nước của Hùng Vương.[2] Nghi lễ truyền thống được tổ chức hàng năm vào mùng 10 tháng 3 Âm lịch tại Đền Hùng ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và được người dân Việt Nam trên toàn thế giới kỷ niệm và tôn kính. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam ghi danh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (đợt 1) và UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể.

LỊCH SỬ

Theo Ngọc phả Hùng Vương chép thời Hồng Đức hậu Lê thì từ thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê, nhà Lý, nhà Trần rồi đến Hậu Lê các vua và nhân dân địa phương đều đến lễ bái các vua Hùng.[3] Từ thời xưa, các triều đại quân chủ và phong kiến Việt Nam đã quản lý Đền Hùng theo cách giao thẳng cho dân sở tại trông nom, sửa chữa, cúng bái, tổ chức ngày giỗ Hùng Vương thứ 18 vào ngày 11 tháng 3 âm lịch; đổi lại dân địa phương được triều đình miễn cho những khoản thuế ruộng cùng sưu dịch và sung vào lính.[4]

Năm 1917, triều vua Khải Định, Bộ Lễ chính thức gửi công văn ghi ngày 25 tháng 7 phái quan hàng tỉnh của tỉnh Phú Thọ lấy ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch thì cử hành “quốc tế” hàng năm, tức là sức cho các quan phải mặc phẩm phục lên đền Hùng thay mặt triều đình Huế cúng tế.

Bia Hùng Vương từ khảo tại đền Thượng do Tham tri, Hữu tuần phủ Phú Thọ là Bùi Ngọc Hoàn soạn, cho biết: “Năm Khải Định thứ hai, tức năm 1917 lịch dương, Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc có công văn xin Bộ Lễ ấn định lấy ngày mồng 10 tháng 3 hàng năm làm ngày Quốc tế, tức trước ngày giỗ Hùng Vương thứ 18 một ngày, ngày 11 tháng 3, do dân sở tại cúng tế”. Đây cũng là cứ liệu xác tín nhất để xác định rõ ràng ngày lễ chính thức Giỗ Tổ Hùng Vương 10 tháng Ba âm lịch chỉ được ban hành từ hoàng triều Khải Định.

Ngày 10 tháng Ba từ đó được dùng cho toàn quốc. Sau khi nền cộng hòa thành lập, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Sắc lệnh, xem ngày 10 tháng Ba là một trong những ngày lễ chính thức của quốc gia, các công chức được nghỉ lễ có hưởng lương.[5] Trong lễ Giỗ Tổ năm Bính Tuất (ngày 11 tháng 4 năm 1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Lễ giỗ Tổ Hùng Vương tại Việt Nam học xá (nay là khu vực Trường Đại học bách khoa Hà Nội). Cũng trong ngày này, thừa ủy quyền Chủ tịch Chính phủ, Bộ trưởng Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng thay mặt Chính phủ lên làm lễ dâng hương tại Đền Hùng, đã dâng 1 tấm bản đồ Tổ quốc Việt Nam và 1 thanh gươm quý nhằm tế cáo với Tổ tiên về đất nước đang bị Pháp xâm lăng và cầu mong Tổ tiên phù hộ cho quốc thái dân an, thiên hạ thái bình cùng nhau đoàn kết, đánh tan giặc xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

Quốc gia Việt Nam Cộng hòa tại Miền Nam Việt Nam cũng đã ghi nhận ngày 10 tháng Ba là ngày nghỉ lễ chính thức[6] cho đến năm 1975.

Từ năm 2001, ngày giỗ tổ Hùng Vương trở thành quốc giỗ nước Việt Nam sau thời kỳ Đổi mới dù nét văn hóa và tín ngưỡng này không sâu đậm và phổ biến tại Nam Việt Nam.Từ năm 2007, ngày 10 tháng 3 Âm lịch hàng năm là ngày nghỉ lễ.[7] Lễ hội đền Hùng những năm lẻ sẽ do tỉnh Phú Thọ đứng ra tổ chức. Các năm chẵn sẽ có quy mô ở các cấp trung ương. Lễ hội đền Hùng không chỉ diễn ra ở khu di tích lịch sử đền Hùng Phú Thọ mà sẽ diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước.

Theo Nghị định 82/2001/NĐ-CP về việc quy ước lễ hội đền Hùng thì:

“Năm chẵn” là số năm kỷ niệm có chữ số cuối cùng là “0”;

“năm tròn” là số năm kỷ niệm có chữ số cuối cùng là “5”;

“Năm lẻ” là số năm kỷ niệm có các chữ số cuối cùng còn lại.

Trung ương, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch cùng Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức Lễ hội; mời đại diện lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể dự lễ dâng hương.

UNESCO đã công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng” là “kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại” vào ngày 6 tháng 12 năm 2012.[8]

Trong dân gian Việt Nam có câu lục bát lưu truyền từ xa xưa:

Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm

Trống Đồng Đông Sơn

18 VỊ VUA HÙNG KHAI DỰNG TỘC VIỆT

Hùng Vương là cách gọi dành cho các vị vua nước Văn Lang của người Lạc Việt, triều đại được cho là được lập ra hơn 4.000 năm trước. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, tính từ thời Kinh Dương Vương (2879 TCN) đến hết thời Hùng Vương (năm 258 TCN) kéo dài 2.622 năm. Nhà nước Văn Lang tồn tại đến năm 258 TCN thì bị Thục Phán (tức An Dương Vương) thôn tính. Theo lịch sử Việt Nam có 18 đời vua Hùng lần lượt như sau:

1. Hùng Vương Thứ I – Kinh Dương Vương (2879 – 2794 TCN)
Húy Lộc Tục (Dục Vương), sinh năm Nhâm Ngọ (2919 tr. TL), lên ngôi khi 41 tuổi, trị vì 86 năm. Thời gian trị vì của ông kéo dài từ năm Nhâm Tuất (2879 tr. TL) đến năm Đinh Hợi (2794 tr. TL). Kinh Dương Vương là vị vua đầu tiên trong dòng Hùng Vương, đã tạo dựng nền tảng cho quốc gia Văn Lang, khai mở những giá trị văn hóa, chính trị cho người dân Bách Việt.

2. Hùng Vương Thứ II – Hùng Hiền Vương (2793 – 2525 TCN)
Húy Sùng Lãm (Lạc Long Quân), sinh năm Bính Thìn (2825 tr. TL), lên ngôi vào năm 33 tuổi và trị vì 269 năm từ năm Mậu Tý (2793 tr. TL) đến năm Bình Thìn (2525 tr. TL).

3. Hùng Vương Thứ III – Hùng Quốc Vương (2524 – 2253 TCN)
Húy Hùng Lân, sinh năm Canh Ngọ (2570 tr. TL), lên ngôi vào năm 18 tuổi, ở ngôi 272 năm từ Đinh Tỵ (2524 tr. TL) đến năm 2253 (tr. TL). Hùng Quốc Vương là người đầu tiên thực sự đứng ra xây dựng vương triều Hùng Vương với các cải cách về hành chính, phân chia bộ tộc thành các đơn vị hành chính như các bộ phận chính quyền. Ông lập nên Vương triều thứ ba. Đổi tên nước từ Xích Quỷ thành Văn Lang, phát triển hệ thống chính trị và quân đội.

4. Hùng Vương Thứ IV – Hùng Hoa Vương (2252 – 1913 TCN)
Húy Bửu Lang, lên ngôi vào năm Đinh Hợi (2252 tr. TL), ở ngôi trị vì 342 năm đến năm Mậu Thìn (1913 tr. TL). Dưới sự trị vì của ông, nền kinh tế và văn hóa của Văn Lang phát triển mạnh mẽ, những chính sách xã hội đã giúp ổn định và nâng cao đời sống người dân.

5. Hùng Vương Thứ V – Hùng Hy Vương (1912 – 1713 TCN)
Húy Bảo Lang, sinh năm Tân Mùi (2030 tr. TL), lên ngôi năm 59 tuổi, ở ngôi trị vì trong 200 năm từ năm Kỷ Tỵ (1912 tr. TL) đến năm Mậu Tý (1713 tr. TL). Hùng Hy Vương có nhiều đóng góp trong việc ổn định và phát triển đất nước, tạo tiền đề cho các thế hệ sau phát triển mạnh mẽ hơn.

6. Hùng Vương Thứ VI – Hùng Huy Vương (1712 – 1632 TCN)
Húy Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740 tr. TL), ông lên ngôi năm 29 tuổi và trị vì 81 năm, từ năm Kỷ Sửu (1712 tr. TL) đến Kỷ Dậu (1632 TCN). Thời kỳ của Hùng Hồ Vương là giai đoạn phát triển ổn định về chính trị và mở rộng lãnh thổ.

7. Hùng Vương Thứ VII – Hùng Chiêu Vương (1631 – 1432 TCN)
Húy Quốc Lang, sinh năm Quý Tỵ (1768 tr. TL), lên ngôi năm 18 tuổi. Ở ngôi 200 năm, từ năm Canh Tuất (1631 tr. TL) đến Kỷ Tỵ (1432 tr. TL). Thời kỳ trị vì của ông là thời kỳ phát triển mạnh mẽ về văn hóa và xã hội, đặc biệt trong việc phát triển ngành nông nghiệp.

8. Hùng Vương Thứ VIII – Hùng Vỹ Vương (1431 – 1332 TCN)
Húy Vân Lang, sinh năm Nhâm Thìn (1469 tr. TL), lên ngôi 39 tuổi, ở ngôi 100 năm, từ năm Canh Ngọ (1431 tr. TL) đến năm Kỷ Dậu (1332 tr. TL). Với nhiều đóng góp trong việc tăng cường đoàn kết các bộ tộc và phát triển hệ thống hành chính.

9. Hùng Vương Thứ IX – Hùng Định Vương (1331 – 1252 TCN)
Húy Chân Nhân Lang, sinh năm Bính Dần (1375 TCN). Ông lên ngôi khi 45 tuổi, ở ngôi tất cả 80 năm, từ 1331 đến 1252 TCN. Thời kỳ trị vì của ông là một giai đoạn yên bình, tiếp tục củng cố các thành tựu của những đời vua trước.

10. Hùng Vương Thứ X – Hùng Uy Vương (1251 – 1162 TCN)
Húy Hoàng Long Lang là vua thứ 10 của triều đại Hùng Vương. Ông lên ngôi vào năm 1251 TCN, ngay sau khi triều đại của Hùng Định Vương kết thúc. Thời kỳ cai trị của ông kéo dài 90 năm, một khoảng thời gian đáng kể góp phần vào sự ổn định của nước Văn Lang thời kỳ này. Triều đại của ông chấm dứt vào năm 1162 TCN và ông đã truyền lại ngai vị cho người kế nhiệm tiếp theo sau đó.

11. Hùng Vương Thứ XI – Hùng Trinh Vương (1161 – 1055 TCN)
Húy Hưng Đức Lang và ông sinh vào năm Canh Tuất (tức năm 1211 TCN). Ông lên ngôi vào năm 51 tuổi. Triều đại của ông bắt đầu từ năm Canh Tý (1161 TCN) và kéo dài hơn một thế kỷ, với tổng cộng 107 năm trị vì. Đây là một trong những triều đại kéo dài đáng kể, góp phần vào sự liên tục của nhà nước Văn Lang. Ông kết thúc thời gian cai trị của mình vào năm Bính Tuất (1055 TCN).

12. Hùng Vương Thứ XII – Hùng Vũ Vương (1054 – 969 TCN)
Húy là Đức Hiền Lang, sinh vào năm Bính Thân (tức năm 1105 TCN). Tiếp nối truyền thống, ông chính thức lên ngôi lãnh đạo nước Văn Lang khi đã ở độ tuổi 52. Triều đại của Hùng Vũ Vương kéo dài trong 86 năm, bắt đầu từ năm Đinh Hợi (1054 TCN) và kết thúc vào năm Nhâm Tuất (969 TCN). Dưới thời trị vì của Hùng Vũ Vương, Văn Lang có những bước tiến đáng kể trong việc phát triển quân sự, củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc biên cương lãnh thổ.

13. Hùng Vương Thứ XIII – Hùng Việt Vương (968 – 854 TCN)
Húy là Tuấn Lang, sinh năm Kỷ Hợi (982 TCN). Ông lên ngôi khi 23 tuổi, ở ngôi 115 năm, từ năm Quý Hợi (968 TCN) đến năm Đinh Mùi (854 TCN). Hùng Việt Vương là vị vua có nhiều đóng góp trong việc phát triển hệ thống giao thông thủy bộ, thúc đẩy thương mại nội địa, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế.

14. Hùng Vương Thứ XIV – Hùng Anh Vương (853 – 755 TCN)
Tên húy là Viên Lang, sinh năm Đinh Mão (894 TCN). Ông lên ngôi ở tuổi 42, trị vì 99 năm, từ năm (853 TCN) đến năm (755 TCN). Hùng Anh Vương tiếp tục củng cố nền tảng vững chắc của đất nước, chú trọng vào việc giáo dục và phát triển văn hóa.

15. Hùng Vương Thứ XV – Hùng Triều Vương (754 – 661 TCN)
Tên húy là Cảnh Chiêu Lang, sinh năm Qúy Sửu (748 TCN). Ông ở ngôi 94 năm, từ năm Đinh Hợi (754 TCN) đến năm Canh Thân (661 TCN). Dưới thời Hùng Triệu Vương, các chính sách xã hội được cải thiện, đời sống nhân dân ổn định và an lạc.

16. Hùng Vương Thứ XVI – Hùng Tạo Vương (660 – 569 TCN)
Húy là Đức Quân Lang, sinh vào năm Kỷ Tỵ (tức năm 712 TCN). Tiếp nối truyền thống, ông chính thức lên ngôi lãnh đạo nước Văn Lang khi đã ở độ tuổi 52. Triều đại của ông kéo dài trong 92 năm, bắt đầu từ năm Tân Dậu (660 TCN) và kết thúc vào năm Nhâm Thìn (569 TCN). Hùng Tạo Vương là vị vua đã có nhiều cải cách đột phá trong nông nghiệp và thủ công nghiệp, giúp Văn Lang trở nên giàu mạnh hơn.

17. Hùng Vương Thứ XVII – Hùng Nghị Vương (568 – 409 TCN)
Húy là Bảo Quang Lang, sinh vào năm Ất Dậu ( 576 TCN). Tiếp nối truyền thống, ông chính thức lên ngôi lãnh đạo nước Văn Lang khi mới 9 tuổi . Triều đại của Hùng Nghị Vương kéo dài trong 160 năm, bắt đầu từ năm Quý Tỵ (568 TCN) và kết thúc vào năm Nhâm Thân (409 TCN). Hùng Nghị Vương là vị vua có nhiều công lao trong việc củng cố các mối quan hệ ngoại giao, giữ vững hòa bình cho đất nước.

18. Hùng Vương Thứ XVIII – Hùng Duệ Vương (408 – 258 TCN)
Húy là Huệ Lang, sinh vào năm Canh Thân (421 TCN) Ông lên ngôi ở tuổi 14, trị vì 150 năm, từ năm Quý Dậu (408 TCN) đến năm Quý Mão (258 TCN). Hùng Duệ Vương là vị vua cuối cùng của thời Hùng Vương. Dưới thời ông, xảy ra cuộc hôn nhân với Mỵ Nương, con gái của ông, và Tản Viên Sơn Thánh, đồng thời cũng là giai đoạn cuối của thời đại Hùng Vương trước khi Thục Phán An Dương Vương lên ngôi.

18 vị Vua Hùng

 

GIỖ TỔ VUA HÙNG LÀ GIỖ VUA NÀO?

Giỗ Tổ Hùng Vương là ngày giỗ chung của 18 vị Vua Hùng, những người đã có công dựng nước Văn Lang. Đây không phải là ngày tưởng niệm riêng một cá nhân, mà là một ngày lễ để toàn dân Việt Nam cùng hướng về cội nguồn, về truyền thống dân tộc.

Tuy nhiên, nếu truy tìm nguồn gốc sâu xa hơn, chúng ta có thể thấy ngày giỗ này bắt đầu từ vị tổ phụ đầu tiên. Theo truyền thuyết, Kinh Dương Vương là người khai sinh ra nhà nước Xích Quỷ, sau đó Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh ra Hùng Vương, đặt nền móng cho triều đại Văn Lang. Do đó, Giỗ Tổ Hùng Vương chính là ngày để tưởng nhớ vị tổ phụ Kinh Dương Vương cùng tất cả các vị vua đã nối tiếp nhau xây dựng và bảo vệ đất nước.

Con số 18 đời vua không chỉ là một con số đơn thuần. Các học giả cho rằng nó có thể tượng trưng cho 18 chi tộc hoặc triều đại kế tiếp nhau. Con số này còn là bội số của 9, con số thiêng liêng trong văn hóa Việt, thể hiện sự trường tồn và viên mãn của triều đại Hùng Vương.

Dưới thời Thục Phán An Dương Vương, lòng biết ơn các Vua Hùng đã được thể hiện bằng một lời thề sắt son. Trên núi Nghĩa Lĩnh, ông đã dựng cột đá thề nguyện sẽ đời đời trông nom lăng miếu và gìn giữ non sông mà các Vua Hùng đã trao lại.

Chính nhờ những giá trị lịch sử và văn hóa sâu sắc này mà Giỗ Tổ Hùng Vương đã trở thành biểu tượng của tinh thần “Uống nước nhớ nguồn”, là dịp để mỗi người con đất Việt thể hiện niềm tự hào dân tộc và kết nối với nguồn cội của mình.

Các đời vua sau này, các nhà lãnh đạo đất nước ngày nay vẫn luôn ghi nhớ, khẳng định vai trò các vua Hùng trong việc xây dựng giang sơn. Chính vì thế mà hàng năm, người Việt dành một ngày để tưởng nhớ những người đã xác lập và xây dựng nên đất nước. Đến nay, Giỗ Tổ Hùng Vương vẫn được coi là Quốc giỗ, là một trong những ngày lễ quan trọng của đất nước.

Bàn thờ Quốc tổ Hùng Vương ở một trường học
Con Cháu Lạc Hồng Đoàn kết – Biết ơn – Hướng về cội nguồn

———-

Chú thích
          [1] Chữ Giỗ viết hoa chữ cái đầu tiên – Theo mục 8.4 Quy định số 4148-QĐ/VPTW ngày 27/9/2019 của Văn phòng Trung ương Đảng về viết hoa, phiên âm trong các văn bản ở Văn phòng Trung ương Đảng.

          [2] “Ý nghĩa ngày Giỗ Tổ Hùng Vương”. Báo đầu tư. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2019.

          [3] Lễ hội tưởng nhớ vị Hoàng đế xưng vương trong ngày Giỗ Tổ

          [4] Cội nguồn tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương Lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2013 tại Wayback Machine Xuân Chường. Báo Phú Thọ Thứ năm, 15/11/2012, 07:37:00

          [5] Sắc lệnh số 22/SL ngày 18 tháng 2 năm 1946.

          [6] Sales, Jeanne M. Guide to Vietnam. Sài Gòn: American Women’s Association of Saigon, 1974. Tr 9-10

          [7] Ngày 26-4 năm nay: Người lao động được nghỉ lễ ngày Giỗ tổ Hùng Vương. H.Y. – V.X. Báo SÀI GÒN GIẢI PHÓNG Thứ Năm, 29/3/2007 03:55

          [8] Worship of Hùng kings in Phú Thọ, UNESCO 3/12/2012

 Trần Văn Thuận

Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BB%97_T%E1%BB%95_H%C3%B9ng_V%C6%B0%C6%A1ng

Nguồn: https://codongson.vn/18-vi-vua-hung-khai-dung-toc-vie%20t

One thought on “GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *